Chất xúc tác
Paladi hoặc các hợp chất của nó được dùng làm chất xúc tác để tăng tốc phản ứng mà không bị tiêu hao trong cân bằng phản ứng tổng thể.
Paladi là nguyên tố hóa học có số hiệu nguyên tử 46, ký hiệu Pd. Nó nằm ở chu kỳ 5, nhóm 10, khối d. Ở nhiệt độ phòng, trạng thái tham chiếu là rắn; cấu hình electron là [Kr] 4d10.
Phân lớp d tham gia trực tiếp vào hóa học của Paladi. Ở kim loại chuyển tiếp, các electron có mức năng lượng gần nhau có thể cùng tham gia liên kết, vì vậy thường xuất hiện nhiều trạng thái oxi hóa, phức chất phối trí và hoạt tính xúc tác.
Cấu hình electron [Kr] 4d10 cần được đọc cùng trạng thái oxi hóa của hợp chất. Khi electron bị lấy đi hoặc được sắp xếp lại, mức chiếm chỗ của orbital d có thể thay đổi, kéo theo thay đổi về màu sắc, từ tính, kiểu liên kết và độ phản ứng.
Những dạng hóa học quan trọng của Paladi gồm kim loại và hợp kim, oxide, halide và phức chất phối trí. Electron s và d có năng lượng gần nhau nên nhiều trạng thái oxi hóa có thể tồn tại; phối tử quanh ion kim loại có thể làm thay đổi mạnh màu sắc, từ tính và độ phản ứng.
Trạng thái tham chiếu ở nhiệt độ phòng là rắn. Mật độ được liệt kê là 12.02 g/cm³. Điểm nóng chảy là 1 828 K (1 555 °C). Điểm sôi là 3 236 K (2 963 °C). Áp suất, độ tinh khiết, cấu trúc tinh thể hoặc dạng thù hình có thể làm thay đổi các giá trị vật lý đo được.
Trong thực tế, Paladi thường được gặp trong các ứng dụng liên quan đến chất xúc tác, điện tử và nghiên cứu lưu trữ hiđrô. Tùy trường hợp, tính chất được khai thác có thể thuộc về nguyên tố tinh khiết, một hợp chất, hợp kim hoặc một đồng vị cụ thể.
Paladi hoặc các hợp chất của nó được dùng làm chất xúc tác để tăng tốc phản ứng mà không bị tiêu hao trong cân bằng phản ứng tổng thể.
Paladi được dùng trong linh kiện hoặc vật liệu điện tử khi độ dẫn điện, tính bán dẫn, đáp ứng quang học hay độ bền hóa học là quan trọng.
Paladi và các vật liệu liên quan có thể hấp thụ lượng hydrogen đáng kể, nên được nghiên cứu như mô hình cho công nghệ lưu trữ hydrogen.
Paladi nằm ở chu kỳ 5, nhóm 10. Trong vùng lân cận hiển thị ở đây có Coban, Niken, Đồng, Rhodi, Bạc, Iridi, Platin và Vàng. Những vị trí này cho phép so sánh trực tiếp kích thước nguyên tử, năng lượng ion hóa, trạng thái oxi hóa và xu hướng liên kết với các nguyên tố gần nhau trong bảng tuần hoàn.
Các giá trị mô tả nguyên tố hoặc nguyên tử trung hòa khi thích hợp. Dữ liệu vật lý có thể phụ thuộc vào dạng thù hình, áp suất và điều kiện đo.
Việc phát hiện Paladi gắn với William Hyde Wollaston. Việc nhận ra một nguyên tố mới, tách được mẫu đủ tinh khiết và gán số hiệu nguyên tử hiện đại không nhất thiết diễn ra cùng một thời điểm, nên lịch sử phát hiện cần được đọc theo từng mốc.
Nguyên tử khối chuẩn là 106.42(1). Giá trị này phản ánh thành phần đồng vị của vật chất tự nhiên trên Trái Đất, không phải khối lượng của một nguyên tử riêng lẻ.
Paladi có ít nhất một đồng vị bền. Các đồng vị có cùng số proton nên vẫn là cùng một nguyên tố, nhưng khác số neutron và vì vậy khác khối lượng nguyên tử.
Nguy cơ liên quan đến Paladi phụ thuộc vào dạng hóa học, liều lượng và đường phơi nhiễm. Nguyên tố tinh khiết, ion và các hợp chất của nó có thể có tác động sinh học và môi trường rất khác nhau, vì vậy cần kiểm tra dữ liệu an toàn của chất thực tế được sử dụng.